Warning: Undefined array key "HTTP_X_ORIGINAL_URI" in /var/www/creation-com/templates/creation2.5/seo_head_tags.php on line 97
Sáng Thế Ký: Cội nguồn của Phúc Âm
Also Available in:

Sáng Thế Ký: Cội nguồn của Phúc Âm

Thế giới quan về sự sáng tạo bị suy yếu

Tác giả: Ann Lamont
Dịch bởi: Sarah Tran

18113-gospel

Những Cơ Đốc nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của sách Sáng Thế Ký trong việc làm chứng thường nhận được những lời phê bình tiêu cực như: “Hãy quên những vấn đề nhỏ nhặt đi, chỉ cần rao giảng Tin Lành thôi!” Vậy phương cách làm chứng nào là hiệu quả nhất?

Có rất nhiều tài liệu dùng để làm chứng được biên soạn bằng nhiều hình thức khác nhau – truyền đạo đơn, các khóa học, sách, DVD, v.v. Sơ đồ dưới đây dựa trên tài liệu Biết Chúa Cách Cá Nhân của tổ chức Campus Crusade for Christ (Chiến Dịch Sinh Viên Cho Đấng Christ).

Tuy nhiên, có nhiều rào cản ảnh hưởng đến việc tiếp nhận sứ điệp của Phúc Âm. Nhiều người gặp khó khăn ngay từ bước đầu tiên – thừa nhận có một Đức Chúa Trời yêu thương là Đấng Tạo Hóa – nếu họ đã bị tẩy não bởi thuyết tiến hóa.

Cho đến những năm 1950, xã hội phương Tây nói chung vẫn có một thế giới quan Cơ Đốc.1 Ví dụ, tại Úc năm 1959, khi mục sư Billy Graham tổ chức một chiến dịch truyền giảng ở đó, hầu như vào thời điểm đó, không ai trong những người tham dự biết về thuyết tiến hóa, nhưng hầu hết đã tiếp xúc với giáo lý Cơ Đốc từ nhỏ qua trường Chúa Nhật và các lớp giáo lý tại trường học. Do đó, phần lớn những người tham dự đều biết các câu chuyện Kinh Thánh như sự sáng tạo (bước 1), sự giáng sinh và sự chết của Chúa Giê-xu (một phần của bước 3), cùng với Mười Điều Răn và khái niệm tội lỗi (bước 2). Vì các nền tảng của thông điệp cứu rỗi đã có sẵn, hầu hết mọi người hiểu Phúc Âm và rất nhiều người đã đáp ứng lời kêu gọi.2

Sự thay đổi lớn trong xã hội

Tuy nhiên, Richard Lewontin từ Đại học Harvard đã viết về các trường học tại Mỹ: “Thuyết tiến hóa… hầu như không được đề cập trong sách giáo khoa cho đến năm 1954… Sau sự kiện Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik [1957] … việc giảng dạy thuyết tiến hóa đột nhiên xuất hiện ở tất cả các trường học.”3 Trong vòng một thập kỷ sau đó, việc giảng dạy thuyết tiến hóa lan rộng từ Mỹ và trở thành chuẩn mực ở hầu hết các nước phương Tây, từ hệ thống đại học tập trung vào thuyết tiến hóa xuống đến cấp tiểu học (và thường đến cả phụ huynh của học sinh). Kết quả là, tư duy nền tảng của con người về chính trị, tôn giáo và đạo đức cũng thay đổi đáng kể.

Nhiều nhân vật công chúng tự do công khai tuyên bố mình theo chủ nghĩa vô thần. Việc chấp nhận nhiều hoạt động giải trí vào ngày Chúa Nhật, bao gồm các môn thể thao mang tính cạnh tranh, trở nên phổ biến, dẫn đến việc rời bỏ Hội Thánh và không tham gia trường Chúa Nhật. Nhiều người nổi tiếng, như các vận động viên, không còn che giấu lối sống sai lệch với lời dạy của Kinh Thánh về các vấn đề như ngoại tình (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14; Châm-ngôn 6:25–35; 1 Cô-rinh-tô 6:9–10) và đồng tính luyến ái (Sáng Thế Ký 19:4–5, 24; Lê-vi Ký 18:22; Rô-ma 1:27). Các giá trị đi ngược với Kinh Thánh cũng được chấp nhận công khai – như phá thai (Thi thiên 139:13–14; Lu-ca 1:31),4,5,6 mại dâm (Châm-ngôn 3:27; 1 Cô-rinh-tô 6:15–17), và chủ nghĩa nữ quyền cực đoan (Ga-la-ti 3:28).7 “Chiếc hộp Pandora” đã bị mở ra.

Để hiểu vì sao sự thay đổi từ thế giới quan theo Kinh Thánh sang thế giới quan tiến hóa ảnh hưởng đến việc tiếp nhận sứ điệp của Phúc Âm thì chúng ta cần nhận ra những mâu thuẫn nghiêm trọng giữa các tuyên bố sai lầm của thuyết tiến hóa và Kinh Thánh.

Mâu thuẫn

Theo thuyết tiến hóa, các phân tử trong một “hỗn hợp nguyên thủy” liên tục kết hợp ngẫu nhiên qua nhiều giai đoạn trung gian cho đến khi hình thành một tế bào sống. Sau đó, chọn lọc tự nhiên và các đột biến có lợi được cho là đã tác động lên dạng sống đơn giản này để tạo ra sinh vật sống phức tạp hơn, và quá trình này cứ thế tiếp diễn, hình thành các loài động vật từ đơn giản nhất đến con người.

Trong chọn lọc tự nhiên, những loài yếu hơn bị tiêu diệt bởi các loài săn mồi hoặc bởi những cá thể mạnh hơn trong loài của chúng (tức là “sự sống sót của kẻ mạnh nhất”), trong khi đột biến là những sai sót trong mã gen di truyền làm thay đổi đặc điểm của loài. Khi tiến hóa từ loài thấp hơn, các loài cao cấp hơn được cho là giữ lại một số cơ quan mà ngày nay bị xem là vô dụng (cơ quan thoái hóa).8 Và những cải tiến ngẫu nhiên đòi hỏi phải mất hàng triệu năm dể xảy ra. Tuy nhiên, những công bố này mâu thuẫn với các bằng chứng khoa học hiện có.

Ví dụ, nhà khoa học sáng tạo nổi tiếng Louis Pasteur đã chứng minh định luật sinh vật học rằng sự sống chỉ có thể xuất phát từ sự sống. Và mặc dù chọn lọc tự nhiên và đột biến thực sự xảy ra trong tự nhiên,9 nhưng thực chất cả hai đều làm giảm thông tin di truyền, trong khi ngày nay chúng ta đã biết rằng để một loài động vật phát triển lên dạng cao hơn thì cần có sự gia tăng khổng lồ về thông tin di truyền nhằm tạo ra các cấu trúc mới. Hơn nữa, các nghiên cứu dần cho thấy chức năng quan trọng của nhiều cơ quan từng được cho là vô dụng do quá trình tiến hóa, như ruột thừa10 và lá lách11 của con người.

Quan trọng hơn, các tuyên bố của thuyết tiến hóa thách thức thẩm quyền của Kinh Thánh và mâu thuẫn với bản chất của Đức Chúa Trời. Một Đức Chúa Trời yêu thương có sử dụng cơ chế “sự sống sót của kẻ mạnh nhất” đầy bạo lực, đau đớn và chết chóc để tạo ra con người và động vật không? Một Đức Chúa Trời toàn tri liệu có cần đến những lỗi sao chép (đột biến) để tạo ra loài mới và vô tình để lại những cơ quan vô dụng trong cơ thể sinh vật? Hơn nữa, một Đấng Tạo Hóa đầy quyền năng có cần hàng triệu năm để tạo ra mọi thứ như thuyết tiến hóa tuyên bố không?12 Liệu Đức Chúa Trời có thể nhìn vào kết quả của một quá trình như vậy và phán rằng: “thật rất tốt lành” không? (Sáng Thế Ký 1:31)

Rõ ràng, các yêu cầu của quá trình tiến hóa mâu thuẫn với bản chất của Đức Chúa Trời yêu thương,13 toàn tri,14 toàn năng15 trong Kinh Thánh, và Đức Chúa Trời không thể mâu thuẫn với chính bản chất của Ngài. Một khi bản chất thật của Đấng Tạo Hóa yêu thương không còn rõ ràng trong tâm trí con người, thông điệp của Phúc Âm sẽ bị phá vỡ ngay từ bước đầu tiên để trở thành một Cơ Đốc nhân.

Phương pháp chứng đạo của Phao-lô

Khi sứ đồ Phao-lô rao giảng lần đầu tiên tại một thành phố mới, ông thường chọn giảng dạy trong các nhà hội Do Thái vì tại đó các tín đồ đã biết đến nền tảng của sứ điệp cứu rỗi. Những người có mặt đều quen thuộc với Kinh Thánh Do Thái, bao gồm sự sáng tạo (bước 1), Mười Điều Răn và tội lỗi (bước 2), và lời hứa về một Đấng Cứu Thế sẽ đến.16 Tuy nhiên, khi Phao-lô đối mặt với các triết gia tiến hóa ngoại giáo ở Athens, các nền tảng cho sứ điệp cứu rỗi lại không có sẵn. Do đó, ông bắt đầu làm chứng bằng cách thảo luận về nền tảng đầu tiên của Phúc Âm – sự sáng tạo (bước 1) (Công vụ 17:19–25).

Phao-lô minh chứng rằng việc hiểu được thế giới quan của một người và những hệ quả của nó là một phần của việc truyền đạt Phúc Âm cách hiệu quả. Các Cơ Đốc nhân ngày nay cần hiểu rằng thế giới quan tiến hóa có thể là một rào cản đối với nhiều người vì nó mâu thuẫn với lời dạy của Kinh Thánh về bản chất của Đức Chúa Trời và thẩm quyền của Kinh Thánh. Họ cần kiên quyết chống lại sự tấn công của thuyết tiến hóa.

Thuyết tiến hóa hữu thần

Tuy nhiên, nhiều Cơ Đốc nhân bị đánh lừa bởi tuyên bố sai lầm rằng thuyết tiến hóa là sự thật đã được chứng minh và được toàn thể cộng đồng khoa học ủng hộ.17 Nhiều người trong số họ trở thành những người theo thuyết tiến hóa hữu thần, nghĩa là họ cố gắng kết hợp niềm tin Cơ Đốc với thuyết tiến hóa bằng cách cho rằng công cuộc sáng tạo là kết quả của việc Đức Chúa Trời dẫn dắt quá trình tiến hóa. Tuy nhiên, bản chất của Đức Chúa Trời hoàn toàn không thể phù hợp với cơ chế của tiến hóa. Hơn nữa, nó mâu thuẫn với toàn bộ trình tự sự kiện trong sách Sáng Thế Ký. Dù vậy, điều này không có nghĩa là một người theo thuyết tiến hóa hữu thần không phải là Cơ Đốc Nhân thật. Chính tôi đã từng là một người theo thuyết tiến hóa hữu thần trong khoảng mười năm.

Khi tôi trở thành Cơ Đốc nhân sau khi hoàn tất bằng Cử nhân Khoa học, tôi hiểu rất ít về giáo lý Cơ Đốc và gần như không biết gì về Kinh Thánh, nhưng tôi đã được dạy rằng thuyết tiến hóa là sự thật từ thời trung học và tôi chưa bao giờ nghi ngờ điều đó. Ban đầu, tôi không thấy mâu thuẫn giữa Cơ Đốc giáo và thuyết tiến hóa, nhưng khi tôi học biết nhiều hơn về Kinh Thánh, tôi nhận ra rằng niềm tin Cơ Đốc và thuyết tiến hóa hoàn toàn trái ngược nhau. Tôi cũng nhận ra rằng, mặc dù là một giáo viên khoa học, tôi không phân biệt rõ giữa sự kiện (các phép đo và quan sát) và những diễn giải suy ra từ các sự kiện đó (như tiến hóa hoặc sáng tạo).18 Từ đó, tôi hiểu rằng mình cần từ bỏ thuyết tiến hóa.

Thật đáng buồn, khi nhiều Cơ Đốc nhân theo thuyết tiến hóa hữu thần nhận ra mâu thuẫn này, họ lại không từ bỏ thuyết tiến hóa. Thay vào đó, họ đánh mất niềm tin vào tính lịch sử của Kinh Thánh và cho rằng các chương đầu của sách Sáng Thế Ký chỉ mang tính biểu tượng. Tuy nhiên, khi một phần của Kinh Thánh được diễn giải lại để phù hợp với tư duy thế tục thì không phần nào còn được đảm bảo khi bị diễn giải lại – kể cả sứ điệp cứu rỗi hoặc các giá trị đạo đức Cơ Đốc19 (1 Ti-mô-thê 6:20).

Kết luận

Vì thuyết tiến hóa làm suy giảm thẩm quyền của Kinh Thánh và mâu thuẫn với bản chất của Đức Chúa Trời nên việc kết hợp thuyết tiến hóa hữu thần với Kinh Thánh là không khả thi và nỗ lực làm điều này sẽ làm suy yếu đáng kể hiệu quả của việc làm chứng của chúng ta.

Trong một thế giới ngày càng bị tẩy não bởi thuyết tiến hóa qua giáo dục, truyền thông và tuyên bố của hầu hết các nhà khoa học, bạn chắc chắn sẽ gặp những người mà thuyết tiến hóa và các hệ quả đạo đức, tôn giáo của chính họ là rào cản để tiếp nhận niềm tin Cơ Đốc. Do đó, việc tái thiết lập các nền tảng của sứ điệp Cơ Đốc là rất quan trọng, bắt đầu từ niềm tin vào một Đấng Tạo Hóa đầy yêu thương. Quan trọng là phải “biết rõ đối tượng” của mình, giống như sứ đồ Phao-lô, để có thể làm chứng một cách phù hợp và hiệu quả.

Xuất bản: 24/11/2010
Cập nhật: 27/06/2024

Tham khảo và Ghi chú

  1. Thế giới quan là tập hợp các niềm tin nền tảng ảnh hưởng đến suy nghĩ của bạn về mọi vấn đề khác. Trở lại văn bản.
  2. Bản tin điện tử của Christian Today Australia, 14/06/2007. Trở lại văn bản.
  3. Richard Lewontin, Đại học Harvard, trong phần giới thiệu của Scientists Confront Creationism, Godfrey, L.R. (ed.), W.W. Norton, NY, 1984. Trở lại văn bản.
  4. Thai nhi là một thực thể sinh học độc lập với mẹ, có DNA, nhóm máu, giới tính riêng, v.v. Trở lại văn bản.
  5. Nếu người mẹ (cá thể mạnh hơn) tin rằng sự ra đời của một đứa trẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp, lối sống hoặc quy mô gia đình của mình, thì việc “chấm dứt thai kỳ” (tức là giết chết đứa trẻ, cá thể yếu hơn) phù hợp với tư duy “sự sống sót của kẻ mạnh nhất” của thuyết tiến hóa. Trở lại văn bản.
  6. Mặc dù đã bị bác bỏ hoàn toàn, tuyên bố sai lệch của Ernst Haeckel rằng thai nhi trải qua các giai đoạn động vật trước khi trở thành người vẫn xuất hiện trong nhiều sách giáo khoa và thường được sử dụng trong các phòng khám phá thai để thuyết phục phụ nữ rằng họ chỉ đang giết một loài động vật thấp hơn. Trở lại văn bản.
  7. Ở nhiều quốc gia, phụ nữ bị đối xử tàn bạo như tài sản, trong khi ở các nước phương Tây, nhiều phụ nữ đòi hỏi mạnh mẽ các “quyền” gây hại cho người khác, như phá thai theo yêu cầu. Tuy nhiên, cả hai thái cực này có thể tránh được nếu áp dụng lời Kinh Thánh dạy rằng nam và nữ đều có giá trị như nhau trước mặt Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 3:28). Trở lại văn bản.
  8. Hầu như tất cả các cơ quan từng được cho là vô dụng đều đã được phát hiện là có chức năng. Việc không biết một chức năng không đồng nghĩa với việc chức năng ấy không tồn tại. Trở lại văn bản.
  9. Sau khi A-đam phạm tội, thế giới của chúng ta rơi vào “sự trói buộc của sự hư nát” (Rô-ma 8:22). Chọn lọc tự nhiên (tức là cạnh tranh khốc liệt để sinh tồn) thay thế sự hài hòa vốn có giữa các loài động vật, và đột biến khiến cơ thể không còn hoàn hảo (Sáng Thế Ký 1:31). Trở lại văn bản.
  10. Ruột thừa của con người là một phần quan trọng trong hệ miễn dịch. Martin L.G., Ask the Experts, 21/10/1999, truy cập tại www.scientificamerican.com/article. Cũng có thể tìm bài viết về “appendix” tại trang creation.com. Trở lại văn bản.
  11. Lá lách của con người có chức năng giúp loại bỏ các tế bào máu cũ khỏi hệ tuần hoàn. Nó cũng được chứng minh là có tác dụng phòng ngừa và phục hồi sau cơn đau tim. (Maggie Koerth-Baker, news.nationalgeographic.com/news, 30/7/2009) Trở lại văn bản.
  12. Trên thực tế, Kinh Thánh thường cho thấy Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng của Ngài một cách nhanh chóng, ví dụ: rẽ Biển Đỏ (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:21–22), hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Sáng Thế Ký 19:4–25), và giáng lửa khi Ê-li đối đầu với các tiên tri Ba-anh (I Các Vua 18:16–46). Trở lại văn bản.
  13. Ví dụ: Đức Chúa Trời chu cấp mọi nhu cầu của chúng ta (Ma-thi-ơ 6:25–34) và “tóc trên đầu các ngươi cũng đã được đếm hết rồi” (Lu-ca 12:7). Trở lại văn bản.
  14. Thiên nhiên rõ ràng thể hiện thiết kế thông minh: vẻ đẹp (Lu-ca 12:27Ma-thi-ơ 6:28–29), sự vận hành hiệu quả và tính thực tiễn, bao gồm cả những cấu trúc kỹ thuật mà khoa học hiện đại đang mô phỏng theo. (creation.com/biomimetics) Trở lại văn bản.
  15. Ví dụ, Ngài duy trì muôn vật (Hê-bơ-rơ 1:3). Trở lại văn bản.
  16. Việc hiểu các nền tảng cho sứ điệp cứu rỗi là cần thiết nhưng chưa đủ. Sứ điệp của Phao-lô tại nhà hội rất dễ hiểu đối với người Do Thái, nhưng tấm lòng cứng cỏi của nhiều người đã giới hạn sự đáp ứng của họ. Trở lại văn bản.
  17. “Lý thuyết” (giả thuyết chưa được chứng minh) và “sự thật” (chân lý đã được chứng minh) là hai khái niệm mâu thuẫn nhau, mặc dù một lý thuyết nào đó có thể được xác nhận là đúng về sau. Trở lại văn bản.
  18. Ví dụ, con người, chó và dơi đều có cấu trúc xương tương tự ở chi. Người theo thuyết tiến hóa giải thích rằng đó là do có chung tổ tiên; người tin vào sự sáng tạo thì cho rằng đó là kết quả từ cùng một Đấng Thiết Kế. (Cả hai quan điểm đều không thể chứng minh được bằng phương pháp khoa học, vì không ai hiện diện lúc các sinh vật được tạo dựng.) Trở lại văn bản.
  19. Ví dụ: một số hội thánh công khai ủng hộ việc đồng tính luyến ái, thậm chí trong hàng giáo phẩm. (Christian Today Australia, 26/9/2010) Trở lại văn bản.