
“Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.” (Sáng Thế Ký 1:27, Bản Dịch 1925). Đây có lẽ là một trong những câu Kinh Thánh quen thuộc nhất trong Cựu Ước, và phần lớn sự hiểu biết của chúng ta về con người trong đó có chính mình và cách chúng ta liên hệ với Đức Chúa Trời đều dựa trên cách chúng ta hiểu về câu Kinh Thánh này.
Hình ảnh của Đức Chúa Trời là gì?
Chỉ có con người, cả nam lẫn nữ, đều được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và đây là nền tảng cho mối quan hệ đặc biệt của chúng ta với Ngài, khác với loài vật (vốn không có linh hồn đời đời) và khác với thiên sứ (không được ban cho cơ hội cứu rỗi nếu họ phạm tội, Hê-bơ-rơ 2:16). Nhưng chính xác thì Kinh Thánh muốn nói gì khi nói chúng ta được tạo dựng theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời?
Giáo sư thần học Wayne Grudem viết:
“Đức Chúa Trời phán rằng: ‘Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta’ (Sáng Thế Ký 1:26), nghĩa là Đức Chúa Trời có ý định tạo ra một tạo vật giống như chính Ngài. Tiếng Hê-bơ-rơ cho cả hai từ ‘hình’ (tselem) và ‘tượng’ (demût) đều chỉ về một điều gì đó tương tự nhưng không hoàn toàn giống với điều mà nó đại diện. Từ ‘hình’ cũng có thể được dùng để nói đến một vật tượng trưng cho một vật khác.”1
Nói cách khác, Đức Chúa Trời tạo dựng loài người giống Ngài ở một số phương diện và để đại diện cho Ngài. Trong Tân Ước, thân thể của những người tin Chúa được gọi là đền thờ của Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:19). Mặc dù một số người cố gắng tìm kiếm một đặc điểm chủ đạo nào đó phản ánh hình ảnh của Đức Chúa Trời như là ngôn ngữ hay khả năng về trí tuệ, nhưng tốt nhất là không nên giới hạn hình ảnh của Đức Chúa Trời qua một vài đặc điểm nhất định, vì Kinh Thánh không bao giờ làm điều đó.
Thật ra, con người trước lúc sa ngã phản ánh hình ảnh của Đức Chúa Trời ở chỗ họ được ban cho tất cả các thuộc tính của Ngài trong phương diện giao tiếp như khả năng phân biệt, sự khôn ngoan, tình yêu, sự thánh khiết, v.v. Dĩ nhiên, có những thuộc tính mà Đức Chúa Trời không thể ban cho tạo vật của Ngài như sự toàn tại, tự hữu, toàn năng, v.v., vì đó là bản chất độc nhất của Ngài. Và ngay cả những thuộc tính Ngài ban cho chúng ta cũng hoạt động khác với cách những thuộc tính đó hoạt động trong Ngài. Chẳng hạn, chúng ta có linh hồn đời đời, và Đức Chúa Trời là đời đời. Nhưng Đức Chúa Trời đời đời ở chỗ Ngài đã hiện hữu từ trước vô cùng và sẽ luôn hiện hữu cho đến đời đời trong khi tâm linh của chúng ta chỉ tồn tại đời đời sau khi chúng ta được tạo dựng.
Hình con người trước khi sa ngã
Loài người trước khi sa ngã giống Đức Chúa Trời nhất, xét theo giới hạn của một tạo vật hữu hạn và bằng xương bằng thịt thì con người là đỉnh cao trong mọi tạo vật mà Đức Chúa Trời đã dựng nên. A-đam và Ê-va được tạo dựng để có mối quan hệ hoàn hảo với Đức Chúa Trời, và họ cần có những thuộc tính phù hợp cho mối quan hệ đó. Họ được tạo dựng là những tạo vật vô tội bởi vì một thân thể hư nát không thể đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Họ cũng được ban cho quyền quản trị đất với tư cách là những người quản lý thay cho Đức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 1:28). Họ được ban cho khả năng đưa ra các lựa chọn về mặt đạo đức. Họ có thể hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Trời nếu họ muốn, nhưng họ cũng có thể chọn bất tuân, và sẽ phải chịu trách nhiệm cho những quyết định của mình.
Người duy nhất từng bày tỏ hình ảnh trọn vẹn của Đức Chúa Trời là Chúa Giê-xu Christ, Đấng được gọi là “hình ảnh2 của Đức Chúa Trời vô hình” (Cô-lô-se 1:15) và là “hình bóng của bản thể Ngài”3 (Hê-bơ-rơ 1:3). Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, nhưng trong bản chất con người, Ngài cũng phản chiếu hình ảnh trọn vẹn của Đức Chúa Trời Cha. Ngài không chỉ có khả năng vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời một cách hoàn hảo, mà vì Ngài vô tội nên Ngài đã thực sự làm được điều đó. Đây là điều rất quan trọng để chúng ta có thể hiểu được cách mà chúng ta được cứu qua Ngài.
Không có bằng chứng nào trong Kinh Thánh cho thấy A-đam trước khi sa ngã có khả năng khác biệt nhiều so với con người ngày nay. Một nhà truyền đạo trên truyền hình nổi tiếng từng tuyên bố rằng A-đam có thể bơi như cá và bay như chim – và hơn thế nữa. Những khả năng ấy hẳn phải cần đến một cơ thể sinh học thích hợp, đồng thời cũng cần đến các gen để mã hóa chúng. Nhưng điều thường bị bỏ qua là chúng ta chính là hậu duệ của A-đam về mặt thể xác. Điều này cho thấy một sự nối tiếp về DNA; nói cách khác, ngoài những đột biến tích lũy theo thời gian (lỗi sao chép), tất cả các gen của chúng ta đã có là từ A-đam và Ê-va. Ngược lại, bất kỳ gen nào có trong A-đam và Ê-va thì ngày nay vẫn còn tồn tại trong một số người. Điều này bao gồm những gen mã hóa cho các khả năng đặc biệt và các cơ quan cần thiết để thực hiện chúng. Vì vậy, nếu A-đam và Ê-va từng có những khả năng này, thì chúng ta có thể kỳ vọng rằng, ngày nay vẫn có người có khả năng biểu lộ chúng, dù chỉ ở mức độ hạn chế.
Có thể một số gen đã biến mất trong thời kỳ “nút thắt cổ chai” của Cơn Nước Lụt bởi hiện tượng “trôi gen”, ví dụ như những gen liên quan đến tuổi thọ con người trước Cơn Lụt được ghi nhận ở các tổ phụ. Chúng ta chỉ truyền lại một nửa số gen của mình trong quá trình sinh sản, nên trong một quần thể nhỏ, một số gen có thể bị mất vĩnh viễn. Tuy nhiên, nếu A-đam thật sự có một loạt khả năng phi thường, thì lẽ ra một số gen ấy vẫn phải còn duy trì sau giai đoạn “nút thắt cổ chai”. Có một điều chúng ta biết chắc là A-đam vốn được dựng nên là một tạo vật bất tử. Không có ghi nhận nào cho thấy ông có quyền kiểm soát siêu nhiên đối với thiên nhiên. Nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng chính sự sa ngã đã đưa đến sự chết và bị hủy hoại của mọi sinh vật sống.
Con người trước khi sa ngã được định sẵn để làm việc – A-đam được truyền lệnh phải chăm sóc (từ này cũng có thể được hiểu là “làm việc” hoặc “canh tác”) vườn Ê-đen, điều này đòi hỏi một mức độ hoạt động thể chất nhất định (thực ra là đây là điều có lợi cho chúng ta). Vì vậy, chúng ta có thể suy ra rằng A-đam có cả khả năng cả về mặt thể chất lẫn tinh thần để làm công việc của mình, thậm chí có thể ông đã sáng chế ra các công cụ để giúp công việc dễ dàng hơn, như giỏ đựng trái cây, xẻng để đào đất, v.v. Điểm khác biệt giữa công việc trước khi sa ngã và sự lao nhọc – chính là hậu quả của lời rủa sả: Trước sa ngã, chăm sóc vườn Ê-đen sẽ mang lại niềm vui cho A-đam mà không có sự vô ích nào. Sau khi sa ngã, lao nhọc đến từ sự rủa sả là một sự bóp méo, vốn đã bị biến dạng từ công việc ban đầu mà Đức Chúa Trời đã thiết lập.
Căn nguyên khiến Sa-tan thù ghét
Chúng ta không biết nhiều về lịch sử trước khi sa ngã của Sa-tan. Tuy nhiên, Kinh Thánh cho thấy sự sa ngã ấy xảy ra vào một thời điểm nào đó giữa lúc Đức Chúa Trời phán rằng mọi vật Ngài dựng nên đều “rất tốt lành” vào cuối Tuần Sáng Tạo và lúc Ê-va bị cám dỗ. Sa-tan đã nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời. Đến khi hắn xuất hiện trong Sáng Thế Ký 3 dưới hình dạng con rắn, hắn đã chống nghịch Đức Chúa Trời và cám dỗ Ê-va để bà bất tuân Ngài. Các câu chuyện về bị quỷ ám và khủng bố, được tường thuật cả trong Kinh Thánh lẫn xuyên suốt lịch sử, dường như cho thấy con người (tạo vật được Đức Chúa Trời yêu thương) là mục tiêu đặc biệt của Sa-tan. Điều này dễ hiểu vì Satan ghét Đức Chúa Trời, hắn muốn chống lại Ngài và chiếm đoạt vai trò của Ngài, nhưng hắn không thể. Hắn không thể làm bất cứ điều gì mà Đức Chúa Trời không cho phép (như trường hợp của Gióp). Nhưng hắn có thể hành hạ những người mang hình ảnh của Đức Chúa Trời và kéo theo càng nhiều người xuống Hỏa Ngục càng tốt (vốn là nơi ban đầu được tạo ra để trừng phạt các thiên sứ phản nghịch, chứ không phải cho con người – Ma-thi-ơ 25:41).
Tội lỗi và hình ảnh bị hư hoại
Khi A-đam và Ê-va phạm tội, hậu quả thảm khốc không chỉ giáng trên họ, mà còn trên tất cả con cháu của họ, và cho toàn thể nhân loại (xem Sự Sa ngã: một thảm họa của vũ trụ). Vì A-đam là đầu của toàn thể tạo vật nên khi ông sa ngã, mọi tạo vật cũng chịu chung số phận. Hình ảnh hoàn hảo giống Đức Chúa Trời nơi con người đã bị biến dạng. Giờ đây, con người sẽ phải đối diện với sự chết (Rô-ma 5:12–19), và linh hồn họ sẽ gánh lấy số phận kinh khiếp là bị phân cách đời đời với Ngài (Ma-thi-ơ 25:41). Họ không còn có thể cai trị một cách hiệu quả, vì phần lớn tạo vật sa ngã giờ đây thù địch với họ. Họ không còn có khả năng chọn vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ có thể đoán biết phần nào về những phương diện khác mà sự sa ngã đã phá hỏng hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người.
Có một số tranh luận rằng liệu hình ảnh đó chỉ bị vấy bẩn hay đã hoàn toàn mất đi. Một số người cho rằng hình ảnh của Đức Chúa Trời không còn chút nào trong con người, rằng nó đã hoàn toàn mất đi trong sự sa ngã, vì một hình ảnh đầy tội lỗi thì không phải là hình ảnh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đúng nếu hình ảnh đó phải giống hệt Đức Chúa Trời từng điểm một. Thực tế không phải vậy, vì con người mang hình ảnh Ngài trong giới hạn, còn Đức Chúa Trời thì vô hạn. Con người trong thân thể tội lỗi không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời như A-đam từng thấy, và do đó, con người không thể thông công với Ngài theo cách tương tự. Sự phân cách này cũng là một trong những lý do chúng ta cần một Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và con người – Chúa Giê-xu Christ, Đấng vừa hoàn toàn là Đức Chúa Trời vừa hoàn toàn là con người (1 Ti-mô-thê 2:5).
Hơn nữa, một số giáo lý quan trọng trong Kinh Thánh cho rằng con người vẫn mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Đầu tiên, giết người bị xem là tội ác nghiêm trọng phải chịu án tử hình. Lý do là vì chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và việc giết người “biểu lộ một ý định hoặc mong muốn (nếu có thể) tấn công chính Đức Chúa Trời”4, ngay cả khi người đó không nhận thức được mong muốn đó. Ngay cả loài vật cũng bị xử tử nếu chúng giết người (Xuất Ê-díp-tô Ký 21:28–32). Mặc dù loài vật không thể phạm tội và cũng không biết phân biệt đúng sai, điều này nhấn mạnh sự nghiêm trọng của việc hủy hoại mạng sống con người, và lưu ý rằng không hề có hình phạt tương tự khi một con người giết một con vật. Gia-cơ cũng nhắc đến ảnh tượng5 của Đức Chúa Trời trong Gia-cơ 3:9, khi ông quở trách hành vi giả hình của việc vừa chúc tụng Đức Chúa Trời nhưng cũng lại vừa rủa sả con người là những người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Câu Kinh Thánh này đặc biệt vì được viết ở thì hoàn thành, nghĩa là chỉ một hành động xảy ra trong quá khứ với hậu quả kéo dài cho đến hiện tại. Điều này cho thấy con người không chỉ được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời mà vẫn còn giữ một phần của hình ảnh đó.
Khi những người Pha-ri-si hỏi Chúa Giê-xu liệu có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không (Ma-thi-ơ 22, Mác 12, Lu-ca 20), Chúa Giê-xu đã khéo léo trả lời bằng cách hỏi họ hình ảnh của ai ở trên đồng tiền. Khi họ trả lời là của Sê-sa, Chúa Giê-xu phán: “Vậy, hãy trả lại cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và trả lại cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.” Nếu đồng tiền mang hình ảnh của Sê-sa nghĩa là nó thuộc về Sê-sa, thì theo logic trong ngữ cảnh này, điều gì thuộc về Đức Chúa Trời thì phải mang hình ảnh của Ngài. (Xem The use of Genesis in the New Testament.)
Kinh Thánh cũng nhiều lần khẳng định: sau khi sa ngã, con người vẫn mang hình ảnh của Đức Chúa Trời (xem khung minh họa bên dưới). Điều này cho thấy hình ảnh chỉ bị méo mó chứ không hoàn toàn mất đi.
Nền tảng của sự cứu rỗi
Khi một số thiên sứ phạm tội và sa ngã, họ không có cơ hội để ăn năn và nhận được sự tha thứ (và ngược lại, dường như các thiên sứ thánh hiện nay không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phục vụ Đức Chúa Trời). Muôn vật sa ngã sẽ bị hủy trong lửa hừng (2 Phi-e-rơ 3:12), cho nên, tiến trình phục hồi của nó dường như không thể thiếu yếu tố hủy diệt. Trong tất cả tạo vật, chỉ có con người được ban cho cơ hội ăn năn và trở lại mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời. Đó là vì chúng ta mang hình ảnh của Đức Chúa Trời nên chúng ta có khả năng được cứu.
Cho dù hình ảnh ấy đã bị hư hoại bởi tội lỗi, thì con người vẫn là trọng tâm trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cho sự sáng tạo, và kể từ khi con người sa ngã, mục tiêu của toàn bộ lịch sử là phục hồi dân dự của Ngài. Nói một cách ngắn gọn, mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo là chuẩn bị một nàng dâu cho Đấng Christ. Chúng ta quan trọng đến mức Ngài đã sai một sứ mạng giải cứu từ thiên đàng thông qua sự nhập thể của Chúa Giê-xu Christ. Nhưng câu hỏi đặt ra là: Làm sao Đức Chúa Trời có thể mang lấy bản chất của một tạo vật sa ngã?
Chúa Giê-xu không thể mang lấy hình thể của một thiên sứ, một cái cây, hay bất kỳ thứ gì khác trong toàn bộ tạo vật ngoại trừ con người (Phi-líp 2:7). Con người là ứng cử viên duy nhất có thể được cứu chuộc vì mục đích là cứu những người vốn đã mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Lý do mà “hình ảnh của Đức Chúa Trời vô hình” có thể mang lấy hình hài con người trong sự nhập thể là vì chỉ có con người mới được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.
Sự Cứu Rỗi: Hình ảnh được phục hồi chưa trọn vẹn
Khi chúng ta tin Chúa Giê-xu để được cứu rỗi, chúng ta được xưng công bình, nghĩa là được xưng là công chính trước mặt Đức Chúa Trời (Rô-ma 5:18–19), và chúng ta được Đức Thánh Linh ngự trong (Rô-ma 8:9,15; Ga-la-ti 4:6, Ê-phê-sô 1:13). Kế đó, Đức Chúa Trời bắt đầu công cuộc phục hồi hình ảnh trọn vẹn hơn của Ngài trong chúng ta. Điều này thể hiện qua nhiều phương diện, trong đó có sự nên thánh – tức là tiến trình biến đổi để uốn nắn chúng ta dần vào đúng tiêu chuẩn của Ngài (Phi-líp 2:13, Ga-la-ti 5:22–23). Mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời được phục hồi, gần giống như mối tương giao của con người với Ngài trước lúc sa ngã. Khi bước đi với Chúa, chúng ta càng ngày càng thuận phục ý muốn Ngài nhiều hơn, dù sự thuận phục ấy sẽ không bao giờ hoàn toàn trọn vẹn trong đời này.
Tuy chúng ta mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, nhưng hình ảnh ấy đã bị méo mó, nên chúng ta vẫn chết, vẫn phạm tội, vẫn không đạt được điều Đức Chúa Trời đã định cho chúng ta (Rô-ma 3:23). Chúng ta vẫn còn bản chất sa ngã của xác thịt; cho nên, giải pháp tối hậu cho tình trạng này không thể là gì khác ngoài hơn một sự đổi mới trọn vẹn—một thân thể mới, không còn tội lỗi.
Vùng đất mới và hình ảnh được phục hồi hoàn toàn
Tình trạng sa ngã của con người là những người mang hình ảnh Đức Chúa Trời là xúc phạm đến chính Ngài, và giải thích tại sao phải có một Đấng Trung Bảo mang thân phận con người. Vinh quang của Đức Chúa Trời đòi hỏi Ngài phải phục hồi một dân tộc thuộc về Ngài, vì mục tiêu của sự sáng tạo là tập trung vào con người, trong đó Đức Chúa Trời muốn có một mối tương giao với những người mang hình ảnh của Ngài, được bày tỏ bởi sự trung tín và tình yêu tự nguyện. Nếu Đức Chúa Trời không làm như vậy, điều đó sẽ ngụ ý rằng Sa-tan có thể cản trở mục đích của Đức Chúa Trời, vì vậy Đức Chúa Trời phục hồi những ai tin cậy Đấng Christ để bày tỏ thẩm quyền tối cao của Ngài.
Kinh Thánh dạy rằng khi Chúa Giê-xu tái lâm, cả người công bình lẫn kẻ gian ác đều sẽ được sống lại (Giăng 5:29; Công Vụ 24:15); người công bình sẽ sống với Đấng Christ đời đời, và kẻ ác sẽ phải chịu sự phán xét và xấu hổ đời đời. Sự sống lại theo định nghĩa là sự sống lại của thân thể; chúng ta sẽ có những thân thể vật lý, mang hình dạng con người và sẽ có một số kết nối với thân thể hiện tại của chúng ta, nhưng sẽ không còn những khiếm khuyết hay yếu đuối do tội lỗi gây ra. Những thân thể này sẽ không bao giờ trải qua bệnh tật, đau khổ, hay sự chết nữa (Khải Huyền 21:4) vì tội lỗi đã được trả giá bằng huyết của Chiên Con – Đấng Trung Bảo Giê-xu Christ. Chúng ta sẽ không còn chịu đựng các bệnh tật về thể chất, di truyền, hay tinh thần vì thân thể và tâm trí của chúng ta sẽ không còn bị sự rủa sả làm cho suy yếu hay trì trệ nữa (Khải Huyền 22:3).
Về mặt đạo đức, chúng ta cũng sẽ hoàn toàn vô tội; chúng ta sẽ không còn chút ham muốn hay khả năng phạm tội nào. Bản chất của chúng ta sẽ mong muốn vâng phục Đức Chúa Trời hoàn toàn vì chúng ta sẽ không còn phải chiến đấu với xác thịt nữa. Chúng ta lúc bấy giờ sẽ còn tốt hơn cả trong vườn Ê-đen, vì chúng ta sẽ không có khả năng phạm tội và sa ngã lần nữa, vì tội lỗi sẽ bị đánh bại một lần và mãi mãi, và bản chất của chúng ta sẽ hoàn toàn được biến đổi theo ảnh tượng của Ngài.
Hình ảnh của Đức Chúa Trời: được tạo dựng, không phải tiến hóa
Đối với các Cơ Đốc Nhân tin rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng quá trình tiến hóa để tạo nên muôn loại, thì vấn đề hình ảnh của Đức Chúa Trời là một nan đề nghiêm trọng đối với quan điểm của họ. Giáo lý về con người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời gắn liền với giáo lý về sự sáng tạo. Con người đặc biệt và vượt trội hơn mọi tạo vật khác vì Đức Chúa Trời đã tạo ra con người như vậy. Nếu chúng ta chỉ là những con khỉ tiến hóa từ cùng một sinh vật đơn bào như mọi thứ khác, thì không có cơ sở để tuyên bố rằng chúng ta đặc biệt (hoặc chúng ta phải viện dẫn một lời giải thích kiểu “Đức Chúa Trời lấp đầy những lỗ hổng” để giải thích vì sao chúng ta trở nên vượt trội hơn các động vật khác). Loài người phải là công trình sáng tạo siêu nhiên trực tiếp của Đức Chúa Trời thì mới có thể mang hình ảnh của Ngài. Nhưng trong thế giới quan theo thuyết tiến hóa, bất kỳ sự vượt trội nào cũng chỉ là sự khác biệt về mức độ, không phải về bản chất. Nhiều người theo thuyết tiến hóa sẵn sàng khẳng định ‘chuột, heo, chó hay người cũng đều như nhau’, họ tranh cãi rằng động vật có giá trị ngang hàng (thậm chí hơn) con người. Nhưng điều này hoàn toàn đối lập với thế giới quan của người tin Chúa rằng chúng ta phải trân trọng và chăm sóc tạo vật của Đức Chúa Trời cách khôn ngoan, nhưng đồng thời phải công nhận vị trí độc nhất của con người trong trật tự sáng tạo của Đức Chúa Trời.
Kết luận
Cũng như hầu hết các giáo lý, chúng ta phải xem xét toàn bộ Kinh Thánh, từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền, để hiểu đúng giáo lý về hình ảnh Đức Chúa Trời và cách nó ảnh hưởng đến chúng ta. Một sự hiểu biết sai lệch về nền tảng trong Sáng Thế Ký sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận hình ảnh của Đức Chúa Trời trong suốt phần còn lại của Kinh Thánh.
|
|
| Sáng-thế Ký 1:26–27 | Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất. Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. |
| Sáng-thế Ký 5:1b | Ngày mà Đức Chúa Trời dựng nên loài người, thì Ngài làm nên loài người giống như Đức Chúa Trời. |
| Sáng-thế Ký 9:6 | Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại; vì Đức Chúa Trời làm nên người như hình của Ngài. |
| Thi Thiên 8:4–5 | Loài người là gì, mà Chúa nhớ đến? Con loài người là chi, mà Chúa thăm viếng nó? Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút, Đội cho người sự vinh hiển và sang trọng. |
| Công Vụ 17:28–29 | “Vì tại trong Ngài, chúng ta được sống, động, và có, y như xưa một vài thi nhân của các ngươi có nói rằng: Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài.“ |
| Rô-ma 8:29 | Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em. |
| 1 Cô-rinh-tô 11:7 | Vả, đờn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu; nhưng đờn bà là sự vinh hiển của đờn ông. |
| 1 Cô-rinh-tô 15:49 | Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của người thuộc về trời. |
| 2 Cô-rinh-tô 3:18 | Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh. |
| 2 Cô-rinh-tô 4:3–4 | Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. |
| Ê-phê-sô 4:19–24 | Họ đã mất cả sự cảm biết, đành bỏ mình trong một đời buông lung, đem lòng mê đắm không biết chán mà phạm hết mọi điều ô uế. Nhưng anh em học cho biết Đấng Christ thì chẳng phải như vậy, vì anh em đã nghe đạo Ngài, và được dạy dỗ trong Ngài (y theo lẽ thật trong Đức Chúa Jêsus) rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lốt người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành, mà phải làm nên mới trong tâm chí mình, và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật. |
| Cô-lô-se 1:15 | Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. |
| Cô-lô-se 3:9–11 | Chớ nói dối nhau, vì đã lột bỏ người cũ cùng công việc nó, mà mặc lấy người mới là người đang đổi ra mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy, đặng đạt đến sự hiểu biết đầy trọn. Tại đây không còn phân biệt người Gờ-réc hoặc người Giu-đa, người chịu cắt bì hoặc người không chịu cắt bì, người dã man hoặc người Sy-the, người tôi mọi hoặc người tự chủ; nhưng Đấng Christ là mọi sự và trong mọi sự. |
| Hê-bơ-rơ 1:3a | Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài. |
| Gia-cơ 3:9 | Bởi cái lưỡi chúng ta khen ngợi Chúa, Cha chúng ta, và cũng bởi nó chúng ta rủa sả loài người, là loài tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời. |
Tài liệu tham khảo và ghi chú
- Wayne Grudem, Systematic Theology (Thần học Hệ thống), tr. 442, Grand Rapids: Zondervan, 1994. Trở lại văn bản.
- Tiếng Hy Lạp εἰκών (eikōn, từ đó có từ “icon”). Đây cũng là từ được dùng trong Bản Bảy Mươi (LXX), tức bản dịch tiếng Hy Lạp của Sáng Thế Ký 1:26 (khoảng năm 250 TCN), cho thấy sự liên hệ rõ ràng với Sáng Thế Ký. Trở lại văn bản.
- Tiếng Hy Lạp χαρακτήρ (charaktēr): chỉ sự tái hiện chính xác trong mọi phương diện của một vật (chẳng hạn như gương mặt của Hoàng đế) được in dấu trên một bề mặt, hoặc hình chiếu hai chiều của một hình ba chiều (xem thêm Flatland). Trong sự nhập thể, khi Chúa Giê-xu mang lấy bản tính con người trọn vẹn, tất cả sự đầy trọn của Đức Chúa Trời được tập trung trong thân vị làm người của Ngài (Cô-lô-se 1:19). Trở lại văn bản.
- Grudem, tr. 444. Trở lại văn bản.
- Tiếng Hy Lạp ὁμοίωσις (homoíōsis): “sự giống nhau”, cũng chính là từ tương tự trong Bản Bảy Mươi dùng trong Sáng Thế Ký 1:26. Trở lại văn bản.
- Không có danh sách nào thuộc loại này có thể được xem là trình bày đầy đủ trọn vẹn về một giáo lý, vì giáo lý ấy được ngụ ý trong nhiều câu Kinh Thánh khác, nơi mà những thuật ngữ liên quan không xuất hiện; có nhiều nơi mà hình ảnh của Đức Chúa Trời làm nền tảng cho một giáo lý ngay cả khi nó không được đề cập cụ thể. Các câu Kinh Thánh được trích từ bản New American Standard Version. Trở lại văn bản.